Bỏ qua đến nội dung chươngNhững cỗ quan tài khác
Cỗ Quan Tài Nhẹ Tênh·Khoảng 9 phút đọc
Sáng hôm sau tôi dậy sớm hơn dì Bảy.
Tôi gần như không ngủ. Sau tiếng cười dưới sàn nhà, tôi ngồi co ro trên gác, đèn dầu để sáng tới sáng, quyển sổ của ngoại ôm trong lòng. Tôi đã nghe lại tiếng cười đó trong đầu không biết bao nhiêu lần. Tôi tự nhủ đó là tiếng nước lọc ọc qua kẽ cột, tiếng con chuột cống, tiếng con cá quẫy dưới gầm nhà. Tôi là phóng viên. Tôi đã từng viết bài vạch trần mấy ông thầy bùa lừa đảo ở Tây Ninh, mấy cái "chùa linh" thu tiền cúng giải hạn ở Bình Dương. Tôi không tin vào ma quỷ.
Nhưng tôi đã không dám nhìn xuống sàn nhà suốt đêm.
Dì Bảy xuống bếp lúc năm giờ. Dì nhóm lửa, bắc nồi cháo, động tác chậm rãi và quen thuộc. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh dì, mở quyển sổ ra, lật tới trang có ngày sinh của tôi, đặt lên đùi dì.
— Dì ơi. Đứa này là ai?
Dì Bảy nhìn xuống trang sổ. Tôi thấy dì cứng người lại. Cây đũa cả trong tay dì ngừng khuấy. Dì nhìn dòng chữ ấy rất lâu, môi mím chặt, và tôi thấy mặt dì từ từ tái đi, như máu đang rút dần ra khỏi da.
— Ngoại ghi nhầm, — dì nói.
— Ghi nhầm? Ngoại ghi kỹ từng dòng suốt bốn mươi năm mà dì. Cân nặng, giờ sinh, dây rốn quấn mấy vòng. Ngoại ghi nhầm cả một đứa con nít sao?
— Ngoại già rồi. Hồi đó ngoại cũng mệt. — Dì Bảy đứng dậy, đưa đũa cả cho tôi. — Con khuấy nồi cháo giùm dì. Dì ra sau hái mấy trái ớt.
Dì đi ra sau nhà, và không quay lại cho tới khi nồi cháo đã nhừ. Khi quay lại, mắt dì đỏ hoe, và dì không nhìn tôi suốt bữa sáng.
Tôi không hỏi thêm. Tôi biết cách hỏi chuyện người khác, đó là nghề của tôi. Và tôi biết khi nào người ta chưa sẵn sàng nói. Dì Bảy chưa sẵn sàng. Nhưng phản ứng của dì đã nói với tôi nhiều hơn mọi câu trả lời.
Đứa bé thứ hai là có thật.
Buổi sáng, tôi ra chợ. Chợ Rạch Cát họp trên một khoảng đất cao cạnh bến đò, mùa nước nổi thì thu hẹp lại còn chừng chục sạp, bày bán cá linh, bông điên điển, bông súng, rau nhút, mấy rổ tép bạc còn nhảy tanh tách. Tôi ghé sạp chè của bà già hôm trước. Bà nhận ra tôi, kéo ghế mời ngồi, múc cho một chén chè bắp.
— Bà ơi, ở xóm mình có ai từng bốc mộ mà thấy chuyện lạ không bà?
Bà già nhìn quanh, rồi ghé sát tai tôi.
— Con hỏi chuyện quan tài nhẹ hả?
— Có. Có nghe. Ba bốn năm trước, nhà ông Tám Dũng dời mả cho bà nội ổng qua đất mới. Ông Sáu Lục bốc. Nghe nói lúc khiêng lên, cái quách nhẹ hều, nhẹ như không có gì. Ông Sáu không cho ai mở, nói để ổng lo. Rồi ổng lo, đem chôn chỗ mới, không ai thấy bên trong. Nhà ông Tám cũng không dám hỏi. — Bà ngừng lại. — Rồi còn nhà bà Út Mận, có đứa cháu chết non, chôn trong nghĩa địa ven sông. Bà Út kể là bả nằm mơ thấy đứa nhỏ nói nó không có nằm ở đó. Mơ hoài, mơ cả chục năm.
— Đứa nhỏ đó, hồi sinh ra ai đỡ hả bà?
— Bà Năm chứ ai. Hồi đó cả xóm này đứa nào mà không phải bà Năm đỡ.
Tôi tìm đến nhà ông Sáu Lục ngay buổi trưa.
Nhà ông nằm khuất trong một con rạch nhỏ, phải chèo xuồng luồn qua những bụi bần, bụi ô rô mới tới. Một căn nhà sàn thấp lè tè, vách lá, mái lá, trước sân có một cái chòi nhỏ chất đầy cuốc xẻng, dây thừng, những tấm vải điều cũ. Ông Sáu đang ngồi trên bậc cầu thang, mài một cái xẻng trên viên đá mài, tiếng sắt rít lên ken két.
Ông thấy tôi chèo xuồng tới thì ngừng tay. Nhưng ông không đứng dậy, không mời tôi lên.
— Con về đi, — ông nói, trước khi tôi kịp mở miệng.
— Ông Sáu, con chưa hỏi gì mà.
— Con muốn hỏi chuyện mấy cái mả khác. Cả xóm biết con đi hỏi rồi. — Ông lại cầm xẻng lên mài. — Ông không biết gì hết. Ông chỉ là thằng đào mả. Người ta kêu thì ông đào, người ta trả tiền thì ông lấy. Vậy thôi.
Tôi buộc xuồng vào cột cầu thang. Tôi không lên nhà. Tôi chỉ mở quyển sổ của ngoại ra, lật tới một trang tôi đã đánh dấu từ đêm qua, rồi đọc to lên, đủ để ông nghe thấy giữa tiếng sắt rít:
— Ngày hai mươi ba tháng Chạp. Mẹ: Lê Thị Hoa, vợ anh Chín Tửng. Trai. Không qua khỏi. Cù lao. Đã gửi.
Tiếng mài xẻng ngừng bặt.
Ông Sáu Lục ngẩng lên nhìn tôi. Lần đầu tiên tôi thấy rõ mặt ông dưới ánh nắng trưa: những nếp nhăn sâu hoắm như vỏ cây tràm già, đôi mắt đục mờ, và trong đó, một thứ gì đó vừa đau đớn vừa nhẹ nhõm, như người giữ một gánh nặng quá lâu bỗng thấy có người chạm tay vào đầu đòn gánh.
— Ngoại con ghi hết vô đó hả? — Ông hỏi, giọng khàn khàn.
— Ghi hết. Ba mươi bảy dấu đỏ. Ba mươi bảy đứa. Chữ "cù lao" là gì vậy ông? "Đã gửi" là gửi đi đâu?
Ông Sáu không trả lời. Ông đặt cái xẻng xuống, nhìn ra con rạch nhỏ, nơi lục bình trôi chầm chậm.
— Nhà ông Chín Tửng, — cuối cùng ông nói. — Mả thằng nhỏ nằm ở góc nghĩa địa, sát mép sông. Tuần trước ông đi coi rồi, còn cách mép lở chừng một sải tay. Nước lên thêm chút nữa là xuống sông. Ông Chín cũng đang tính dời. — Ông nhìn tôi. — Con muốn coi thì đi với ông. Nhưng con phải hứa với ông một chuyện.
— Thấy cái gì thì cũng đừng có la lên. Mấy đứa nhỏ sợ tiếng la.
Nhà ông Chín Tửng nằm ở xóm trên, cách nghĩa địa không xa. Ông Chín là một người đàn ông ngoài sáu mươi, gầy khô, ít nói, vợ ông là bà Hoa thì ngược lại, mập mạp, vui vẻ, nói không ngừng. Khi ông Sáu Lục nói chuyện dời mả, bà Hoa đồng ý ngay. Bà nói ba mươi năm rồi, thằng nhỏ cũng nên được dời qua chỗ cao ráo, nằm gần ông bà nội. Bà còn nói vui rằng nó mà biết chắc nó mừng lắm.
Ông Chín thì im lặng. Tôi để ý thấy ông nhìn ông Sáu Lục rất lâu, một cái nhìn dò hỏi, và ông Sáu khẽ lắc đầu, rất nhẹ, như một lời xin lỗi không thành tiếng.
Chiều hôm ấy, chúng tôi ra nghĩa địa. Chỉ có ông Sáu Lục, ông bà Chín, tôi, và sư Hai được mời tới tụng kinh. Trời âm u, mây xám kéo thấp sát mặt sông, gió thổi lạnh. Mép lở đã ăn vào thêm một khúc so với buổi sáng bốc mộ ngoại. Ngôi mộ của ngoại giờ chỉ còn là một cái hố trống, chiếc quan tài rỗng vẫn nằm dưới đáy, nước mưa đọng lại một vũng đục ngầu.
Mộ con trai ông Chín là một nấm đất nhỏ, xây gạch bao quanh, tấm bia xi măng khắc mấy chữ đã mờ: "Lê Văn Út. Mất ngày 23 tháng Chạp." Không có năm sinh, vì năm sinh và năm mất là một.
Ông Sáu Lục thắp nhang, khấn, rắc gạo muối. Ông đào chậm hơn hôm bốc mộ ngoại, như sợ làm đau cái gì đó bên dưới. Đào chừng nửa thước thì chạm tới một chiếc quách sành nhỏ, loại quách dài chừng một khuỷu tay, men nâu đã bong tróc. Ông dùng hai tay nhấc nó lên, đặt lên tấm vải điều trải sẵn trên cỏ.
Tôi thấy ông Chín nắm chặt tay vợ. Bà Hoa không còn nói cười nữa. Bà đứng sát vào chồng, mắt dán vào chiếc quách.
Bên trong không có hài cốt. Không có những mảnh xương nhỏ xíu như tôi đã chuẩn bị tinh thần để thấy. Chỉ có một tấm tã vải trắng, đã ngả màu vàng ố, gấp gọn gàng thành một bọc nhỏ. Ông Sáu dùng hai ngón tay, rất nhẹ nhàng, mở từng lớp vải ra.
Nằm giữa tấm tã là một hình nhân bằng đất sét. Nhỏ bằng bàn tay tôi. Hình một đứa trẻ sơ sinh nằm co, hai tay nắm lại trước ngực, hai chân co lên bụng, đúng cái dáng nằm của đứa bé trong bụng mẹ. Khuôn mặt được nặn kỹ hơn nhiều so với hình nhân trong quan tài ngoại: có đôi mắt nhắm, cái mũi nhỏ xíu, cái miệng chu lên như đang bú. Quanh cổ nó là một sợi chỉ đỏ đã bạc màu, và buộc vào sợi chỉ là một túm tóc nhỏ, đen, mềm, mịn như tơ.
Tóc máu. Thứ tóc đầu tiên của một đứa trẻ sơ sinh.
Bà Hoa nhìn thấy nó. Bà không la. Bà chỉ thở ra một tiếng rất khẽ, như tiếng gió lọt qua khe cửa, rồi ngã quỵ xuống. Ông Chín đỡ lấy vợ. Sư Hai bước tới, bấm huyệt nhân trung, xoa dầu. Một lúc sau bà Hoa tỉnh lại, nhưng không nói gì, chỉ khóc. Khóc lặng lẽ, nước mắt chảy dài, mắt vẫn không rời khỏi hình nhân bé xíu.
Ông Chín ngồi bệt xuống cỏ, ôm vợ trong lòng. Ông nhìn ông Sáu Lục.
— Anh Sáu. Thằng Út nhà tui đâu?
Ông Sáu Lục không trả lời ngay. Ông gói hình nhân lại trong tấm tã, cẩn thận như gói một đứa trẻ thật. Rồi ông nói, rất khẽ, khẽ đến mức tôi phải nín thở mới nghe thấy:
— Nó không nằm một mình đâu anh Chín. Bà Năm không bao giờ để đứa nào nằm một mình.
Ông Sáu ngẩng lên, nhìn ra phía sông. Tôi nhìn theo ánh mắt ông. Giữa dòng sông mênh mông nước đỏ, cách bờ chừng một cây số, có một vệt xanh thẫm nhô lên khỏi mặt nước. Một cù lao. Những tán cây cao rậm rạp, mờ mờ trong sương chiều.
Nhưng ông Sáu Lục không nói gì thêm. Ông đứng dậy, đưa bọc vải cho sư Hai.
— Thầy đem về chùa giùm. Đặt kế bên cái kia.
Đêm ấy, tôi ngồi trên gác nhà dì Bảy, mở điện thoại xem lại những tấm ảnh đã chụp. Tôi muốn so sánh hai hình nhân, xem có cùng một bàn tay nặn hay không. Tôi lướt qua những tấm ảnh chụp ở nghĩa địa buổi sáng hôm bốc mộ ngoại. Rồi tới tấm ảnh tôi chụp ở chùa sáng hôm qua, lúc hình nhân lớn quay mặt về phía đầu xóm. Rồi tới tấm ảnh cuối cùng, tôi chụp vội chiều nay, lúc sư Hai đặt bọc vải nhỏ lên chiếc bàn gỗ, bên cạnh hình nhân lớn.
Tôi phóng to tấm ảnh cuối.
Trong tất cả những tấm ảnh trước, hai bàn tay đất sét của hình nhân lớn đều xuôi thẳng hai bên thân, như lúc nằm trong quan tài. Nhưng trong tấm ảnh này, chụp lúc năm giờ chiều, chúng không còn ở đó nữa.
Chúng đã khum lại, đặt trước ngực, khuỷu tay hơi gập, như một người đàn bà đang ẵm một đứa bé.