Bỏ qua đến nội dung chươngNgười thuê trước
Tiếng Gõ Cửa Lúc Ba Giờ·Khoảng 7 phút đọc
Tôi không dám vào phòng. Tôi đứng ở đầu dãy, gọi điện cho Thảo, giọng run tới mức nó tưởng tôi bị ai đánh. Thảo xin tổ trưởng về sớm một tiếng, chạy xe đạp về. Lúc nó tới, dấu chân trên đất đã khô gần hết, chỉ còn mấy vệt sẫm màu mờ mờ. Nó soi đèn, nhìn một lúc, rồi bảo chắc ai đó đi tắm ngoài vòi nước chung rồi đi chân đất về. Nhưng vòi nước chung ở đầu dãy bên kia, còn dấu chân thì đi ra từ bãi chuối.
Đêm đó Thảo xin nghỉ một ca, ở lại với tôi. Hai đứa nằm chung trên gác lửng, bật đèn sáng trưng, không ai nói gì. Gần ba giờ, Thảo đã ngủ gà ngủ gật. Tôi lay nó dậy. Màn hình điện thoại nhảy sang ba giờ.
Cốc. Cốc. Cốc.
Thảo ngồi bật dậy. Tôi thấy mặt nó trắng bệch đi trong ánh đèn. Nó định bò xuống mở cửa, tôi níu áo nó lại, lắc đầu. Hai đứa ngồi ôm nhau cho tới khi ngoài bãi chuối có tiếng gà gáy.
Sáng hôm sau, tôi và Thảo cùng lên nhà bà Tư. Bà đang ngồi lựa rau muống như mọi ngày. Thấy hai đứa, bà không ngẩng lên, chỉ hỏi:
— Gõ cửa hả con?
Tôi gật đầu. Bà thở dài, đặt rổ rau xuống.
— Bà nói rồi, đừng có mở. Con không mở thì không sao hết. Người ta ở đó rồi đi, có ai bị gì đâu.
— Mà là cái gì vậy bà? — Thảo hỏi, giọng gắt lên vì sợ.
Bà Tư im lặng một lúc lâu, rồi nói rằng chuyện cũ rồi, nhắc làm gì, nhắc thì người ta không yên. Bà bảo nếu tôi sợ thì bà trả lại tiền cọc, tôi dọn sang chỗ khác. Nhưng tôi biết tôi không có tiền để dọn. Tiền cọc chỗ mới, tiền tháng đầu, tiền xe chở đồ, tôi không lo nổi. Tôi đành gật đầu ở lại.
Người kể cho tôi nghe chuyện cũ là chú Sáu. Chú Sáu làm nghề mua ve chai, ngày nào cũng đạp chiếc xe ba gác đi khắp các con hẻm quanh khu công nghiệp. Chú ở trong xóm này từ hồi chưa có dãy trọ, hồi chỗ này còn là ruộng mía với mấy cái mương nước. Một buổi chiều chủ nhật, tôi ra mua mấy cái chai nhựa của chú để trồng hành, thấy chú nhìn về phía phòng bảy, tôi bèn hỏi.
Chú Sáu châm điếu thuốc, rít một hơi dài.
— Chừng tám, chín năm trước — chú kể — phòng đó có một cặp vợ chồng trẻ ở. Người vợ làm công nhân giày, người ngoài Bắc như con. Bụng đang mang bầu tháng thứ bảy mà vẫn đi làm, tăng ca tới khuya. Thằng chồng thì làm bốc vác, kiếm được đồng nào là nhậu đồng đó. Hai vợ chồng cãi nhau hoài, cả xóm nghe.
Chú kể rằng có một đêm, người vợ đi làm ca đêm về sớm vì đau bụng. Thằng chồng nhậu say, khóa trái cửa từ bên trong rồi lăn ra ngủ. Người vợ gõ cửa. Gõ hoài. Gõ tới ba giờ sáng. Hàng xóm có người nghe, nhưng tưởng vợ chồng nhà người ta giận nhau, không ai dám ra.
— Sáng ra — chú Sáu nói, giọng trầm xuống — người ta tìm thấy cô ấy dưới cái mương sau bãi chuối. Hồi đó cái mương còn sâu lắm. Không biết cô ấy đi đâu, đau quá không đứng nổi hay sao mà té xuống. Người ta nói lúc vớt lên, hai đầu gối trầy hết, như là bò.
Tôi nhớ tới tiếng gõ ở chỗ thấp ngang đầu gối, và hai chân tôi bủn rủn.
— Còn người chồng thì sao chú?
Chú Sáu nhún vai, búng tàn thuốc.
— Thì nó vẫn sống. Chuyện là tai nạn, ai làm gì nó được. Mà con ơi — chú nhìn thẳng vào mắt tôi — con nghe chú. Nghe gõ thì đừng mở. Nghe gọi thì đừng thưa. Cô đó gõ là gõ cửa cho người ta mở. Mình mở, là mình rước. Hồi trước có thằng thanh niên ở phòng đó không tin, nửa đêm nghe gõ nó mở cửa ra chửi. Một tháng sau nó chạy xe té gãy chân, rồi bỏ về quê luôn.
Tôi không biết tin hay không tin. Nhưng tôi bắt đầu làm những việc mà trước đó tôi chưa từng nghĩ tới. Tôi mua một nải chuối, một bó nhang, mấy cái bánh in, đặt ở góc bãi chuối sau phòng, khấn xin người ta thương mà cho tôi ở yên. Tôi khấn bằng giọng Thanh Hóa, nói rằng tôi cũng là con gái xa nhà như chị, tôi không biết gì về chuyện cũ, tôi chỉ ở nhờ để đi làm kiếm tiền gửi về cho mẹ.
Đêm đó vẫn có tiếng gõ. Nhưng tôi có cảm giác nó nhẹ hơn. Hay đó chỉ là tôi tưởng tượng.
Cũng từ dạo ấy, tôi bắt đầu để ý tới người đàn ông ở phòng số năm. Trước giờ tôi chỉ biết ông qua mùi rượu và tiếng dép lê kéo lẹt xẹt lúc nửa đêm. Nhưng có mấy lần đi tăng ca về khuya, tôi thấy ông ngồi một mình trên cái ghế nhựa đỏ trước cửa phòng, chai rượu đế để dưới chân, mắt không nhìn ra đường mà nhìn chằm chằm về phía cuối dãy, về phía phòng tôi. Thấy tôi đi qua, ông quay mặt đi chỗ khác.
Có một đêm, chừng hai giờ rưỡi, tôi khát nước, ra vòi nước chung ở đầu dãy để rót. Ông vẫn ngồi đó. Lúc tôi đi ngang, ông bỗng lên tiếng, giọng khàn đặc:
Tôi đứng sững, không biết trả lời ra sao. Tôi không hiểu sao ông lại biết. Ông nhìn tôi một lúc, đôi mắt đỏ ngầu dưới ánh đèn tuýp, rồi lắc đầu, cầm chai rượu lên tu một ngụm dài, lẩm bẩm câu gì đó mà tôi nghe không rõ. Hình như là: "Không phải tìm cô đâu."
Tôi chạy về phòng, khóa cửa, nằm co ro trên gác. Đêm đó đúng ba giờ, tiếng gõ lại vang lên. Và lần đầu tiên, tôi nghe thấy từ phía phòng số năm vọng sang một tiếng khóc. Tiếng khóc của đàn ông, nghẹn lại, như người cố nhét cả nắm tay vào miệng cho khỏi bật ra thành tiếng.
Sáng hôm sau tôi hỏi bà Tư về người đàn ông ấy. Bà chỉ nói ông là người quen, ở đây lâu rồi, hiền lắm, có điều buồn chuyện nhà nên uống nhiều. Rồi bà đổi sang chuyện khác, hỏi tôi Tết có về quê không, có cần bà giữ xe giùm không. Tôi biết bà đang giấu tôi điều gì đó. Nhưng tôi cũng biết có hỏi nữa thì bà cũng không nói.
Gần Tết, xưởng của Thảo cho công nhân nghỉ sớm. Thảo mua được vé xe về quê trước tôi mười ngày. Nó cứ áy náy, bảo hay nó đổi vé, nhưng tôi gạt đi. Tôi bảo tôi quen rồi, ba tiếng gõ thôi mà, không mở là được. Thật ra tôi sợ muốn chết, nhưng tôi không muốn nó mất vé về Tết vì tôi.
Đêm đầu tiên ở một mình, tôi tắt hết đèn để không ai biết trong phòng có người. Nằm trên gác, tôi nghe tiếng xe tải chạy ngoài đường lớn, tiếng karaoke ở đâu đó vọng lại, tiếng chó sủa. Rồi mọi thứ im dần.
Tôi nằm im. Tôi đếm hơi thở của mình. Rồi tôi nghe một thứ mà tôi chưa nghe bao giờ trong suốt mấy tháng ở đó.
Một giọng nói. Rất nhỏ, rất gần, như ai đó áp miệng vào khe cửa.
Giọng đàn bà, nói giọng Bắc. Mệt mỏi, khàn khàn, như người đã gọi rất lâu rồi.
— Anh ơi… mở cửa cho em… em đau lắm…
Tôi cắn vào chăn để khỏi bật ra tiếng. Nước mắt tôi chảy ra mà tôi không biết là vì sợ hay vì thương. Giọng nói ấy giống hệt giọng mấy chị công nhân người Bắc trong xưởng tôi, giống cả giọng tôi, giọng của những đứa con gái đi xa, mệt mỏi, mong có người mở cửa cho mình vào nhà.
Tiếng gọi tắt dần. Rồi tôi nghe tiếng gõ ở chỗ khác. Không phải ở cửa nữa. Ở cửa sổ. Cửa sổ nhìn ra bãi chuối, cách gác lửng chỗ tôi nằm có hơn một mét. Cốc. Cốc. Cốc. Lần này không còn ở chỗ thấp. Lần này nó ở ngang tầm mặt tôi.
Tôi không dám quay đầu nhìn. Tôi nằm úp mặt vào gối, tay bịt chặt hai tai, miệng lẩm nhẩm câu niệm Phật mà bà nội dạy hồi nhỏ, cứ thế cho tới sáng.
Sáng hôm đó tôi mở cửa sổ ra. Trên tấm kính mờ bụi, ở ngay chỗ ngang tầm mặt người, có một vết tay. Một bàn tay nhỏ, năm ngón, in rõ trên lớp bụi, như ai đó đã áp tay vào từ bên ngoài, rất lâu.