Đồ của nhà có tang
Hà Nội mùa đông năm 1992 lạnh theo cái kiểu ẩm ướt, dai dẳng, ngấm vào tận xương. Mưa phùn bay lất phất suốt ngày, phủ một lớp ướt mỏng lên mái ngói, lên những biển hiệu viết tay, lên vai áo người đi đường. Phố Hàng Bạc buổi chiều tối lúc nào cũng nhập nhoạng, đèn đường vàng vọt, những ô cửa nhà ống hẹp và sâu như những hang động nhỏ.
Hạnh đi bộ từ Hàng Thiếc sang, tay cầm mảnh giấy ghi địa chỉ. Số mười bảy. Một căn nhà hai tầng mặt tiền chỉ rộng chừng ba mét, cửa gỗ lim sơn xanh đã bong tróc từng mảng. Trên cánh cửa còn dán một mảnh giấy trắng viết chữ Hán bằng mực tàu, thứ giấy người ta dán khi nhà có tang.
Chị bán than ở đầu ngõ bảo Hạnh rằng nhà ấy vừa đưa đám bà cụ Tần được bảy hôm. Con cháu ở xa về, định bán nhà, bán luôn cả đồ đạc. "Toàn đồ cổ đấy em ạ," chị nói, rồi hạ giọng, "nhưng mà đồ người chết, em mua về liệu có sao không?"
Hạnh mỉm cười, không trả lời. Cô hai mươi bốn tuổi, mở một tiệm may nhỏ ở tầng một căn nhà thuê bên Hàng Thiếc được hơn một năm. Khách quen ngày một đông, và cô cần một tấm gương lớn cho góc thử áo. Gương mới ở Tràng Tiền đắt quá, còn gương thường thì mỏng manh, soi vào thấy người méo mó. Một người khách mách cô rằng nhà số mười bảy Hàng Bạc có một tấm gương Tây rất đẹp đang cần bán.
Người ra mở cửa là một thanh niên chừng ba mươi tuổi, gầy, đeo kính trắng, mặc áo len cổ lọ màu xám. Anh tự giới thiệu là Long, cháu nội bà cụ.
— Chị đến xem gương phải không? — Long hỏi, giọng hơi ngập ngừng. — Nó ở trên gác.
Căn nhà bên trong tối và lạnh hơn ngoài phố. Mùi hương trầm vẫn còn vương lại trên mọi thứ, quyện với mùi gỗ cũ và mùi ẩm mốc. Bàn thờ ở gian ngoài còn nguyên di ảnh bà cụ, một bà già tóc trắng búi cao, mặc áo dài nhung đen, đôi mắt nhìn thẳng ra cửa. Hạnh vô thức cúi đầu chào.
Cầu thang gỗ hẹp và dốc, kêu cót két dưới mỗi bước chân. Tầng hai là một gian buồng rộng hơn tầng dưới, có giường gỗ chạm, tủ chè, và trên bức tường phía trong cùng, tấm gương.