Bỏ qua đến nội dung chươngThị Nghi
Người Đàn Bà Áo Đỏ Trên Bãi Xương Giang·Khoảng 6 phút đọc
Hồ Kỳ Vọng là người đất Phong Châu, quê ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc, nơi ba dòng nước gặp nhau, đục ngầu phù sa và xoáy thành những vòng nước sâu không thấy đáy.
Cuối đời nhà Hồ, binh lửa liên miên, đồng ruộng bỏ hoang. Kỳ Vọng đưa vợ con xuôi về thành Xương Giang buôn bán kiếm sống. Ông thuê một căn nhà nhỏ trong thành, ngày ngày gánh hàng đi chợ, chiều về ngồi đếm từng đồng tiền kẽm.
Được hai năm, Kỳ Vọng lâm bệnh. Thầy thuốc bảo là bệnh thương hàn. Ông nằm sốt mê man nửa tháng rồi chết, để lại người vợ góa và một đứa con gái mới lên bảy tuổi tên là Thị Nghi.
Người vợ nghèo kiết xác. Bà muốn đưa thi hài chồng về quê chôn cất, nhưng không có lấy một đồng tiền thuê thuyền. Ở đất khách, không họ hàng, không ai giúp đỡ. Bà ngồi bên xác chồng ba ngày ba đêm, khóc đến cạn nước mắt.
Ngày thứ tư, bà dắt con gái đến nhà một phú thương họ Phạm trong thành.
Bé Thị Nghi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nó chỉ thấy mẹ quỳ xuống trước mặt một người đàn ông béo tốt, mặt đỏ như gấc, nói gì đó rất lâu. Rồi người đàn ông gật đầu, đưa cho mẹ nó một túi tiền. Mẹ nó cầm túi tiền, ôm nó vào lòng một lúc, rồi buông ra, quay lưng đi thẳng, không ngoảnh lại.
Thị Nghi đứng ở cổng nhà họ Phạm, nhìn theo bóng mẹ khuất dần sau góc phố. Nó không khóc. Nó chỉ đứng đó rất lâu, cho đến khi có một mụ hầu già ra kéo nó vào trong.
Đó là lần cuối cùng nó nhìn thấy mẹ.
*
Thị Nghi lớn lên trong nhà họ Phạm như một đứa ở.
Nó quét nhà, gánh nước, giặt giũ, nấu nướng. Mùa đông nó ngủ dưới gầm bếp, mùa hè nó ngủ ngoài hiên. Nó bị mắng chửi, bị đánh đập, bị bỏ đói. Nhưng nó vẫn lớn lên, như một cây cỏ dại mọc lên từ kẽ đá.
Đến năm mười sáu tuổi, Thị Nghi đã thành một thiếu nữ xinh đẹp đến lạ lùng.
Nước da nàng trắng ngần dù quanh năm làm lụng ngoài nắng. Đôi mắt nàng đen láy, long lanh như mặt nước dưới trăng. Mái tóc nàng dài chấm gót, đen mượt như tơ. Đi ra chợ, đàn ông ngoái lại nhìn theo. Con trai các nhà trong phố kiếm cớ đi ngang qua cổng nhà họ Phạm.
Và ông chủ Phạm cũng bắt đầu nhìn nàng bằng một ánh mắt khác.
Thoạt đầu ông chỉ gọi nàng lên nhà trên rót trà, bưng nước. Rồi ông bắt đầu cho nàng quần áo mới, trâm cài đẹp. Rồi một đêm, khi vợ ông đi lễ chùa vắng nhà, ông gọi Thị Nghi vào phòng riêng.
Từ đó, hai người lén lút tư thông với nhau.
Thị Nghi không biết đó có phải là tình yêu hay không. Nàng chỉ biết rằng từ khi ông chủ để ý đến mình, nàng không còn bị bỏ đói, không còn phải ngủ dưới gầm bếp, không còn bị đánh đập vô cớ. Nàng có áo lụa để mặc, có cơm trắng để ăn. Đối với một đứa trẻ bị mẹ bán đi năm bảy tuổi, chừng ấy đã là quá đủ.
Nhưng không có bí mật nào giấu được lâu trong một ngôi nhà.
Vợ họ Phạm là người đàn bà nhỏ thó, mặt choắt, đôi môi mỏng dính lúc nào cũng mím chặt. Bà biết chuyện từ rất sớm. Bà biết qua cái cách chồng mình nhìn đứa con ở. Bà biết qua những chiếc trâm mới trên tóc nó. Bà biết qua những đêm chồng mình trở dậy rồi không quay lại giường.
Nhưng bà không nói gì. Bà chờ.
Một buổi chiều, khi họ Phạm đi buôn xa chưa về, bà gọi Thị Nghi vào sân sau. Bà bảo nàng làm vỡ một chiếc bát sứ quý. Thị Nghi chối, nói mình không làm. Bà không nghe. Bà sai hai tên gia nhân trói nàng vào cột, rồi tự tay cầm roi mây.
Bà đánh nàng từ lúc mặt trời còn đứng bóng cho đến khi mặt trời lặn.
Lúc đầu Thị Nghi còn kêu khóc, van xin. Rồi nàng chỉ còn rên rỉ. Rồi nàng im lặng. Đến khi trời tối hẳn, hai tên gia nhân cởi trói, thân thể nàng đổ sụp xuống đất như một tấm giẻ rách. Không còn thở nữa.
Người vợ họ Phạm đứng nhìn cái xác dưới chân mình, ném chiếc roi mây sang một bên, phủi tay. Bà sai gia nhân cuộn xác vào một chiếc chiếu rách, đem ra bãi đất hoang bên cạnh làng, đào một cái hố nông mà chôn vội. Không quan tài, không hương khói, không một tấm bia.
Khi họ Phạm đi buôn về, vợ ông bảo rằng con ở bị bệnh dịch mà chết, đã đem đi chôn rồi. Ông im lặng một lúc, rồi không hỏi gì thêm.
Mấy tháng sau, quanh thành Xương Giang bắt đầu có chuyện lạ.
Đầu tiên là một chị bán tương ở chợ phía đông. Một buổi sáng, đang ngồi bán hàng, chị bỗng lăn đùn ra đất, mắt trợn ngược, miệng sùi bọt. Khi tỉnh lại, chị không còn là chị nữa. Chị đứng dậy, vuốt lại mái tóc, nhìn quanh bằng đôi mắt long lanh như mặt nước dưới trăng, rồi cất giọng nói ngọt như mía lùi. Giọng nói ấy không phải giọng của chị.
Rồi đến một cô hàng rượu ở bến đò. Rồi một bà góa bán xôi đầu ngõ. Hết người này đến người khác, những người đàn bà buôn bán dọc con đường quanh thành bỗng thay tính đổi nết, trở nên lẳng lơ, quyến rũ lạ thường.
Và đàn ông trong vùng bắt đầu chết.
Những người có chút địa vị, có vợ có con, bị quyến rũ rồi chết trong những cơn mê sảng, người khô đét như que củi, như thể bị hút cạn hết sinh khí. Những người có tiền của thì bị lừa gạt, bị móc túi, bị dụ đến những chỗ vắng rồi trắng tay mà về. Có người kể rằng đã ngủ với một cô gái đẹp ở quán rượu bên đường, sáng ra tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm giữa bãi tha ma, tay ôm một nắm đất ẩm.
Cả một dải đường dài mười dặm quanh thành Xương Giang trở nên vắng ngắt. Người ta phải đi muộn về sớm. Đàn ông dặn nhau: đi đường mà gặp đàn bà đẹp thì đừng có trêu ghẹo, đừng có nhìn lâu, đừng có nhận lời mời uống rượu. Đàn bà thì không dám ra chợ một mình.
Cuối cùng, có một ông già trong làng nhớ lại cái chết của đứa con ở nhà họ Phạm. Ông dẫn dân làng ra bãi đất hoang, chỉ vào một ụ đất nhỏ không bia không mộ.
Họ đào lên. Dưới lớp đất, chiếc chiếu rách đã mục nát. Nhưng thi thể bên trong thì vẫn còn nguyên vẹn, không hề rữa nát, da thịt vẫn trắng ngần như người đang ngủ. Đôi mắt mở trừng trừng. Và đôi môi, đôi môi tím tái của người chết ấy, đang mỉm cười.
Dân làng hoảng sợ, vội lấy cuốc thuổng đập nát thi thể, hốt hết xương cốt bỏ vào thúng, đem ra bờ sông Xương Giang đổ xuống dòng nước.
Từ đó, chuyện quấy nhiễu có bớt đi phần nào.
Nhưng chỉ là bớt đi. Không ai dám nói là đã hết.