Bỏ qua đến nội dung chươngKẻ trộm không để lại dấu chân
Ngôi Chùa Hoang Ở Đông Triều·Khoảng 6 phút đọc
Đời nhà Trần, người ta tin thần tin Phật hơn bao giờ hết.
Chùa chiền mọc lên khắp nơi. Chùa Hoàng Giang, chùa Đồng Cổ, chùa An Sinh, chùa An Tử, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh. Làng nào cũng có chùa, phủ nào cũng có miếu. Số người cạo đầu đi tu đông đến mức gần bằng nửa số dân thường.
Trong khắp các vùng, không đâu sùng đạo bằng huyện Đông Triều.
Ở đó, làng lớn có đến hơn mười ngôi chùa, làng nhỏ cũng năm sáu ngôi. Chùa nào cũng bao quanh bằng rào lũy, bên trong tô vàng thếp bạc lộng lẫy. Người ốm không uống thuốc mà chỉ đi chùa cầu khấn. Ngày rằm, mồng một, đàn tràng cúng bái rộn ràng khắp nơi, khói hương che mờ cả bầu trời.
Và thần Phật dường như cũng đáp lời. Cầu gì được nấy, khấn gì linh nấy. Vì thế người dân càng thêm tin, càng thêm kính, không ai dám nói một lời bất kính.
*
Rồi chiến tranh đến.
Đời vua Giản Định, khói lửa liên miên năm này qua năm khác. Quân Minh tràn qua, quân ta đánh lại, giằng co không dứt. Làng mạc bị đốt, ruộng đồng bị giày xéo. Những ngôi chùa vàng son thuở trước, phần nhiều bị thiêu rụi. Số còn lại, mười phần không được một, cũng mưa dầm gió dập, xiêu vẹo đổ nát, đứng trơ trọi giữa đồng cỏ hoang và bụi rậm.
Tượng Phật nằm phơi mưa. Tượng Hộ pháp đổ nghiêng. Không còn ai thắp hương. Không còn ai quét dọn. Chuột bọ làm tổ trong lòng tượng. Dơi treo mình trên xà nhà. Gió thổi qua những khung cửa vỡ nghe như tiếng người thở dài.
*
Khi quân Minh rút về, dân Đông Triều lục tục kéo nhau trở lại quê cũ. Họ dựng lại nhà cửa, cày cấy lại ruộng đồng, bắt đầu lại cuộc sống từ đống tro tàn.
Triều đình cử một viên quan tên là Văn Tư Lập về làm tri huyện.
Tư Lập là một người hiền lành, cần mẫn, thương dân. Vừa đến nhậm chức, thấy cảnh chùa chiền đổ nát hoang tàn, ông lấy làm xót xa. Ông bèn kêu gọi dân đinh các xã góp công góp sức, chặt tre đốn nứa, lợp tranh, sửa sang lại được ít nhiều. Những ngôi chùa lớn được che mái tạm, những pho tượng đổ được dựng lại.
Nhưng tiền của có hạn. Chỉ sửa được vài ngôi. Số còn lại vẫn nằm hoang giữa cỏ dại.
Tư Lập làm quan ở Đông Triều được một năm thì bắt đầu có chuyện.
Dân quanh huyện liên tục kéo đến công đường kêu ca về nạn trộm cắp. Nhà này mất con gà. Nhà kia mất con ngỗng. Nhà nọ sáng ra thấy ao cá cạn sạch. Vườn cây trái chín đầy cành, một đêm bị vặt trụi. Cứ thứ gì ăn được là mất, từ con lợn trong chuồng đến quả mướp trên giàn.
— Ta ở vào cương vị một quan huyện, mà không có tài để xét ra kẻ gian, không có uy để trừng trị kẻ ác. Vì mềm yếu mà hỏng việc, đó là lỗi của ta.
Nhưng ông cũng nghĩ rằng chỉ là lũ trộm vặt, chẳng có gì đáng lo lắm. Ông ra lệnh cho dân các thôn phải canh phòng cẩn mật mỗi đêm, thay phiên nhau đi tuần, gặp kẻ khả nghi thì bắt ngay.
Dân làng làm đúng như lệnh. Mỗi đêm, trai tráng cầm gậy gộc, đốt đuốc đi tuần khắp các ngõ xóm. Họ thức đến sáng, không bỏ sót một góc nào.
Một tuần trôi qua. Không bắt được ai. Không thấy một bóng người lạ nào.
Nhưng nạn trộm vẫn không hề giảm.
Rồi mọi chuyện bắt đầu trở nên kỳ quái.
Bọn trộm ngày càng táo tợn. Chúng không còn sợ gì nữa. Chúng vào tận bếp nhà người ta, mở hũ rượu ra uống sạch, để lại những vũng nước lênh láng trên nền đất. Chúng vào tận buồng ngủ, sờ soạng vợ con người ta. Đàn bà đang ngủ bỗng giật mình tỉnh dậy, thấy có bàn tay to lớn, thô ráp, lạnh như đá, đặt lên người mình. Họ hét lên, cả nhà vùng dậy thắp đèn, nhưng trong buồng không có ai. Cửa vẫn cài then. Cửa sổ vẫn đóng chặt.
Có lần, trai tráng đi tuần thấy rõ một bóng người lớn lừng lững trong vườn nhà ông lý trưởng, đang vặt mít ăn ngồm ngoàm. Họ hò nhau vây lại, đuốc sáng rực, gậy gộc giơ cao. Cái bóng chỉ đứng dậy, chậm rãi bước vào chỗ tối dưới gốc cây, rồi biến mất. Họ lùng sục khắp vườn, soi từng bụi cây, không tìm thấy gì cả. Trên mặt đất ẩm ướt sau mưa, không có lấy một dấu chân.
Chỉ có những vỏ mít bị cắn vỡ vương vãi, và trên đó là những dấu răng to gấp ba lần răng người.
Tin đồn lan khắp huyện. Người ta bắt đầu sợ hãi. Đêm xuống, không ai dám ra khỏi nhà. Cổng ngõ đóng chặt. Trẻ con bị cấm khóc.
Tư Lập nghe báo cáo, im lặng hồi lâu. Rồi ông bật cười, một tiếng cười gượng gạo:
— Thì ra bấy lâu nay chúng ta oan cho lũ kẻ trộm. Đây không phải là người. Đây là ma quỷ đang hưng yêu tác quái. Mọi chuyện quấy phá bấy nay, đều do chúng gây ra cả.
Tư Lập cho người đi mời khắp các thầy phù thủy cao tay trong vùng. Họ đến, mang theo bùa chú, ấn quyết, gươm gỗ đào. Họ lập đàn, đọc thần chú, dán bùa khắp các cổng làng, các ngõ xóm, các chuồng trại.
Đêm hôm ấy, nạn quấy phá còn tệ hơn trước.
Sáng ra, người ta thấy tất cả bùa chú bị xé nát, vứt vương vãi trên đường làng. Mấy ông thầy pháp thì bị lột sạch áo quần, trói gô vào gốc cây đa đầu làng, miệng bị nhét đầy bùn.
Tư Lập hoảng sợ thật sự. Ông triệu tập các bô lão trong huyện đến bàn bạc:
— Các người ngày trước vốn thờ Phật rất kính cẩn. Từ khi có chiến tranh, hương đèn lễ bái chểnh mảng, cho nên yêu nghiệt mới hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao không đến chùa kêu cầu với Phật? Đó cũng là một cách tạm thời, may ra có ích.
Các bô lão gật gù cho là phải.
Ngày hôm sau, dân cả huyện kéo nhau đến những ngôi chùa còn đứng vững, thắp hương lễ bái. Họ quỳ trước những pho tượng Phật sứt mẻ, khấn rằng:
— Chúng con kính thờ Trời Phật, quy y đã lâu, một lòng trông cậy vào Phật pháp. Nay ma quỷ nổi lên, quấy nhiễu dân lành, hại cả đến gia súc. Vậy mà Phật cứ ngồi nhìn im lặng, chẳng phải là quá từ bi rồi sao? Cúi xin Phật mở lượng xót thương, ra oai trừng phạt, để thần người không lẫn lộn, dân vật được yên ổn. Chỉ có điều, loạn lạc vừa yên, làm ăn chưa khôi phục, chúng con chưa có tiền sửa sang chùa chiền được. Đợi khi nào làm ăn khấm khá, chúng con xin trùng tu lại chùa để đền đáp công đức.
Đêm hôm ấy, mọi chuyện còn tồi tệ hơn bao giờ hết.
Bọn chúng vào tận nhà ông lý trưởng, ăn sạch mâm cỗ vừa cúng Phật xong, uống cạn hũ rượu ngâm, rồi đập vỡ tan bát đĩa. Trên vách nhà, có ai đó dùng than vẽ một hình người to lớn, đứng chắp tay sau lưng, miệng cười toe toét.
Và ở ngôi chùa hoang ngoài cánh đồng phía tây, nơi chưa ai kịp sửa sang, người ta nghe thấy suốt đêm có tiếng cười vang vọng. Tiếng cười to, khàn, rền rĩ như tiếng sấm, vọng ra từ trong lòng ngôi chùa đổ nát.