Bỏ qua đến nội dung chươngCây gạo bên chùa
Hồn Ma Dưới Gốc Gạo·Khoảng 9 phút đọc
Từ hôm ấy, Trình Trung Ngộ đổ bệnh.
Thoạt đầu chỉ là sốt. Rồi chàng nằm liệt trong khoang thuyền, người gầy rộc, mắt trũng sâu, môi tím tái. Thuốc thang nào cũng vô hiệu. Thầy lang đến bắt mạch, lắc đầu đi ra, không nói gì.
Nhưng điều khiến bạn buôn sợ hãi không phải là bệnh. Mà là những tiếng nói.
Đêm đêm, khi bến sông đã ngủ yên, người ta lại nghe thấy tiếng thì thầm ngoài cửa sổ khoang thuyền. Giọng đàn bà, nhẹ nhàng, êm ái, nói những lời không ai nghe rõ. Và Trung Ngộ, đang mê man trên chiếu, lại mở mắt, ngồi dậy, đáp lời. Chàng cười, chàng hỏi han, chàng hứa hẹn, giọng tỉnh táo như người không bệnh tật gì.
Có đêm, chàng vùng dậy, đạp tung chăn, lao ra phía mạn thuyền như muốn nhảy xuống nước. Ba bốn người xúm vào mới giữ được. Cuối cùng họ phải lấy dây thừng trói chàng vào cột buồm.
Trung Ngộ giãy giụa, mắng chửi họ thậm tệ:
— Chỗ vợ ta ở có lâu đài lộng lẫy, có hương hoa ngào ngạt! Ta phải đi theo nàng, chứ không thể ở mãi trong cõi bụi bặm này! Các người là ai mà dám trói ta?
Những lúc ấy, mắt chàng sáng rực lên, khuôn mặt hốc hác bỗng có một vẻ hạnh phúc đến rợn người. Và ngoài cửa sổ, trong bóng tối, có ai đó cười khẽ.
Bạn buôn bàn nhau chờ chàng khá hơn một chút thì nhổ neo ngược về Bắc. Nhưng họ không chờ được đến ngày đó.
Một đêm, có lẽ vì mệt mỏi sau nhiều đêm thức canh, cả thuyền ngủ say như chết. Không ai nghe thấy gì. Sáng ra, sợi dây thừng vẫn quấn quanh cột buồm, nút buộc vẫn còn nguyên. Nhưng Trình Trung Ngộ thì không còn ở đó nữa.
Họ hốt hoảng chạy đi tìm. Không cần bàn bạc, tất cả cùng chạy về một hướng: cánh đồng ngoài lũy tre Đông thôn.
Họ tìm thấy chàng trong túp lều tranh. Chàng nằm trên chiếc giường mây, hai tay ôm chặt lấy cỗ quan tài sơn son, má áp vào nắp gỗ, như người chồng ôm vợ trong giấc ngủ. Thân thể đã lạnh cứng. Khuôn mặt bình yên, khóe miệng còn vương một nụ cười.
Còn hình nhân bằng đất ôm cây hồ cầm thì đã quay mặt vào trong, đứng nhìn hai người như kẻ hầu canh giấc cho chủ.
Không ai dám gỡ tay chàng ra. Họ đành bàn với cụ Hối, chôn Trung Ngộ ngay bên cạnh mộ Nhị Khanh, ở chính bãi tha ma ấy.
Chuyện tưởng đã khép lại. Nhưng ở làng ven sông Nam Xang, người ta biết rằng nó mới chỉ bắt đầu.
Chừng một tháng sau đám tang, những người đi đêm bắt đầu kể lại cùng một chuyện. Vào những đêm không trăng, trên con đê chạy dọc bờ sông, có hai bóng người dắt tay nhau đi. Một nam, một nữ. Người đàn ông mặc áo chàm rách vạt. Người đàn bà mặc áo lam, tóc xõa ngang lưng. Họ đi chậm rãi, có khi cất tiếng hát, giọng hòa nhau rất êm. Có khi lại dừng lại giữa đê, ôm nhau mà khóc, tiếng khóc nức nở vang xa khắp cánh đồng.
Ai gặp họ thì về nhà phát sốt. Ai không thắp hương cúng bái thì trâu bò lăn ra chết, lúa ngoài đồng cháy rụi, trẻ con đêm đêm khóc ré không dỗ được. Chỉ cần một nhà lơ là việc khấn vái, sáng hôm sau người ta đã thấy trước cửa nhà ấy có hai dấu chân trần in sâu trong bùn, một to một nhỏ, đứng sát cạnh nhau, mũi chân hướng vào trong.
Cả làng sống trong sợ hãi. Hương khói đốt cho hai hồn ma mỗi ngày một nhiều, mà tai họa vẫn chẳng ngớt.
Một năm như thế. Rồi đến một ngày, dân làng không chịu được nữa.
Họ kéo nhau ra bãi tha ma, mang theo cuốc thuổng, đuốc lửa và cả bùa chú xin từ mấy ông thầy cúng trong vùng. Các bô lão khấn vái một hồi, rồi trai tráng xông vào đào. Họ phá mả Trung Ngộ, bật nắp quan tài Nhị Khanh. Không ai dám nhìn kỹ những gì bên trong. Họ hốt cả hai bộ hài cốt bỏ vào một chiếc thúng, khiêng ra bờ sông, rồi đổ ụp xuống dòng nước đục.
Xương trắng chìm xuống, rồi lại nổi lên, rồi lại chìm xuống, trôi dần theo con nước, khuất sau khúc quanh.
Người làng thở phào, tưởng từ nay được yên ổn.
Ở hạ lưu khúc sông ấy, trên một doi đất cao, có một ngôi chùa cổ. Chùa nhỏ, ít sư, quanh năm lạnh lẽo. Trong sân chùa có một cây gạo già, thân to đến ba người ôm không xuể, rễ nổi lên khỏi mặt đất như những con trăn khổng lồ quấn lấy nhau. Người ta bảo cây gạo ấy đã sống hơn trăm năm. Mùa xuân, hoa gạo nở đỏ rực như những ngọn đuốc treo lơ lửng giữa trời. Mùa hạ, bông gạo bay trắng xóa, phủ kín sân chùa như tuyết.
Từ khi hài cốt hai người trôi xuống sông, cây gạo ấy bắt đầu có chuyện.
Đêm đêm, trên những cành cao, người ta nghe có tiếng cười đùa, tiếng hát, tiếng đàn hồ cầm văng vẳng. Ai đi ngang qua dưới gốc thì bị ném đá, ném đất, có người bị kéo ngã xuống rễ cây gãy cả chân. Mùa hoa năm ấy, hoa gạo nở đỏ khác thường, đỏ như máu. Và khi rụng xuống, những bông hoa không khô héo như mọi năm mà mềm nhũn ra, rỉ một thứ nước sẫm màu, tanh lợm.
Dân làng biết hai hồn ma đã tìm được chỗ trú mới.
Họ mang rìu đến định chặt cây. Lưỡi rìu đầu tiên bổ vào thân cây thì gãy đôi. Lưỡi thứ hai mẻ một miếng to bằng đồng xu. Người cầm rìu thứ ba chưa kịp vung tay đã bị một cành khô rơi trúng đầu, ngất lịm. Từ đó không ai dám đụng vào cây gạo ấy nữa, đến một chiếc lá cũng không ai dám bẻ. Ngôi chùa vắng dần, sư bỏ đi, cỏ mọc lên tận bậc thềm.
Mùa thu năm Canh Ngọ, niên hiệu Khai Hựu đời Trần, có một vị đạo sĩ đi ngang qua vùng ấy. Ông già nhưng còn tráng kiện, áo vải bạc màu, vai đeo một chiếc túi vải, tay chống gậy trúc. Trời tối, không tìm được chỗ trọ, ông vào ngôi chùa hoang xin ngủ nhờ một đêm.
Đêm ấy trăng mờ, sông lặng, bốn bề im phăng phắc.
Gần nửa đêm, đạo sĩ đang thiu thiu ngủ thì nghe tiếng cười đùa ngoài sân. Ông hé cửa nhìn ra, thấy dưới gốc gạo có một đôi trai gái, thân thể trần truồng, trắng nhợt dưới ánh trăng, đang đuổi bắt nhau, cười nói ríu rít, không chút hổ thẹn. Một lát, họ đi đến trước cửa chùa, gõ thình thình, gọi vọng vào:
— Có ai trong ấy không? Mở cửa cho chúng tôi vào với!
Đạo sĩ cho rằng đó là đôi trai gái lẳng lơ nhân đêm trăng đi chơi bời, trong lòng khinh bỉ, bèn đóng chặt cửa, nằm im không đáp. Tiếng gõ cửa kéo dài rất lâu, rồi tắt. Nhưng suốt cả đêm, ông vẫn nghe tiếng cười khúc khích ngay bên ngoài vách, sát bên đầu mình.
Sáng hôm sau, ông ra đầu làng gặp một ông lão đang cày ruộng, bèn kể lại chuyện đêm qua và than thở phong tục vùng này sao mà suy đồi đến thế.
Ông lão nghe xong, buông cày, nhìn ông rất lâu:
— Ngài không biết đấy thôi. Đó không phải người. Đó là hai con quỷ ở trên cây gạo đã mấy năm nay rồi. Làng chúng tôi khốn khổ vì chúng không biết bao nhiêu mà kể. Chỉ ước sao có được một thanh kiếm trừ tà, chém chúng nó đi cho dân được yên.
Vị đạo sĩ trầm ngâm hồi lâu. Rồi ông nói:
— Ta vốn lấy việc cứu người làm phận sự. Nay chuyện này đã đến tận mắt ta, nếu ta khoanh tay đứng nhìn thì có khác gì thấy người chết đuối mà không cứu.
Ba ngày sau, theo lời đạo sĩ, dân làng dựng một đàn tràng ngay trước sân chùa, dưới bóng cây gạo. Hương trầm nghi ngút, cờ phướn bay phấp phới. Cả làng kéo đến xem, già trẻ trai gái đứng chật kín bờ sông.
Đạo sĩ mặc áo pháp, xõa tóc, tay cầm kiếm gỗ đào. Ông viết ba đạo bùa bằng chu sa. Đạo thứ nhất, ông đóng chặt vào thân cây gạo bằng một chiếc đinh sắt. Đạo thứ hai, ông buộc vào hòn đá, ném xuống lòng sông. Đạo thứ ba, ông đốt lên giữa trời, tro bay lả tả.
Rồi ông giơ kiếm chỉ thẳng lên ngọn cây, quát lớn:
— Lũ dâm quỷ kia! Các ngươi càn rỡ đã lâu, làm hại dân lành không biết bao nhiêu mà kể. Nay nhờ uy linh của thần thánh, ta trừ loài nhơ bẩn! Phép đã truyền, chớ có chậm trễ! Lập tức thi hành!
Tiếng quát vừa dứt, trời đất bỗng tối sầm.
Mây đen từ đâu kéo đến cuồn cuộn, che kín cả mặt trời. Gió nổi lên đùng đùng, quật ngã cờ phướn, thổi tắt hương đèn. Người đứng cách nhau mấy bước không còn nhìn thấy mặt nhau. Dưới sông, sóng tung lên trắng xóa, đập vào bờ ầm ầm như sấm. Trên cây gạo, những cành lớn vặn vẹo, rên xiết như có ai đang bị trói lại mà giằng xé. Và lẫn trong tiếng gió, người ta nghe rõ tiếng một người đàn bà gào thét, tiếng một người đàn ông khóc lóc van xin.
Dân làng ôm đầu nằm rạp xuống đất, không ai dám ngẩng lên.
Không biết qua bao lâu. Rồi gió lặng dần. Mây tan. Mặt trời lại hiện ra, nhợt nhạt như vừa ốm dậy.
Người ta ngẩng lên nhìn, và kinh hoàng thấy cây gạo trăm năm đã bị nhổ bật cả gốc. Thân cây nằm vật ngang sân chùa, rễ chổng ngược lên trời, đất cát còn bám đầy. Cành lá gãy nát, vỏ cây bị tước thành từng sợi như người ta tước đay.
Rồi trên không trung vọng xuống tiếng roi vọt quất vun vút, tiếng gông xiềng loảng xoảng, tiếng kêu khóc thảm thiết. Mọi người cùng ngước lên. Họ thấy giữa những đám mây còn sót lại, có đến sáu bảy trăm tên lính đầu trâu, mình người, tay cầm roi sắt, đang áp giải hai kẻ bị gông cùm. Một người đàn ông áo rách vạt. Một người đàn bà tóc xõa, áo lam. Hai bóng người ấy ngoảnh đầu nhìn xuống ngôi chùa lần cuối, rồi bị lôi đi mất hút về phía chân trời.
Dân làng mừng rỡ, gom góp tiền bạc của cải đem đến tạ ơn vị đạo sĩ. Nhưng ông chỉ phất tay áo, không nhận một đồng. Rồi ông chống gậy đi thẳng vào núi sâu, không ai biết ông là ai, đi về đâu.
Ngôi chùa ven sông về sau được người ta tu sửa lại. Ở chỗ cây gạo bị nhổ, đất trũng xuống thành một cái hố nông, mưa xuống thì đọng nước. Không ai trồng được cây gì ở đó.
Còn cây cầu Liễu Khê thì vẫn đứng bắc qua con lạch nhỏ, mặt ván mòn nhẵn, lan can sơn đỏ bong tróc. Người già trong vùng dặn con cháu rằng, đi qua cầu ấy vào những đêm cuối xuân, nếu có nghe tiếng đàn hồ cầm vọng lên từ mặt nước, thì cứ cắm đầu mà đi, đừng dừng lại, đừng ngoảnh nhìn, và tuyệt đối đừng bao giờ nói mình là người tri âm.