Bỏ qua đến nội dung chươngSố máy của Tuấn
Cuộc Gọi Lúc Hai Giờ Mười Bảy·Khoảng 7 phút đọc
Năm đó tôi hai mươi hai tuổi, vào Bình Dương được hơn một năm, làm công nhân đứng chuyền ở một xưởng lắp linh kiện điện tử trong khu công nghiệp. Tôi ở trọ chung với Tuấn, thằng bạn cùng xã, học cùng nhau từ hồi cấp một. Chính Tuấn là người kéo tôi vào đây. Nó vào trước tôi hai năm, quen đường quen nẻo, biết chỗ nào cơm bụi rẻ, chỗ nào thay nhớt không bị chém, biết cả bà chủ trọ nào tính tiền điện theo giá nhà nước, bà nào tính bốn nghìn một số.
Dãy trọ của chúng tôi có mười hai phòng, mái tôn thấp, nằm cuối một con hẻm đất đỏ. Trưa nắng thì trong phòng nóng như cái lò, đêm mưa thì tiếng nước dội trên mái nghe như có người đổ sỏi. Phòng số năm, chín mét vuông, một cái gác lửng bằng ván ép, một cái quạt cây cứ quay đến góc trái là kêu cạch một tiếng. Tuấn ngủ trên gác, tôi ngủ dưới, sát cái ổ cắm điện duy nhất trong phòng. Hai đứa xài chung một cục sạc, chiếc điện thoại cục gạch của tôi với chiếc của nó giống nhau như đúc, chỉ khác cái ốp lưng của nó dán hình một đội bóng đã phai màu.
Tuấn làm ở xưởng khác, cách xưởng tôi chừng ba cây số. Mùa đó xưởng nó có đơn hàng lớn, công nhân phải tăng ca liên tục, có tuần nó về đến phòng lúc hai giờ sáng. Tôi làm ca ngày, tối về nấu cơm, để phần nó một tô trong cái lồng bàn nhựa. Nửa đêm nghe tiếng xe nó đỗ ngoài hiên, tiếng khóa cửa lách cách, tiếng nó lục lồng bàn, rồi tiếng nó leo lên gác kẽo kẹt. Tôi quen với những tiếng ấy đến mức có hôm nó về muộn hơn thường lệ, tôi tự dưng thức dậy, nằm nghe mãi mà không thấy gì.
Cái đêm ấy là một đêm như thế.
Tôi nhớ rõ vì tôi đã nhìn đồng hồ. Tôi giật mình tỉnh dậy, không phải vì tiếng động mà vì một cảm giác rất lạ, như có ai vừa đứng ở cuối chân giường rồi bỏ đi. Ngoài trời mưa lâm râm. Tôi với lấy cái điện thoại để xem giờ, màn hình xanh lè hiện hai giờ mười bảy. Gác lửng tối om. Tôi nghĩ chắc nó tăng ca thêm, định gọi nhưng lại thôi, sợ nó đang làm mà điện thoại reo thì bị tổ trưởng la. Tôi nằm xuống, nghe mưa, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Sáu giờ sáng, điện thoại tôi reo. Số lạ. Một người đàn ông xưng là công an giao thông, hỏi tôi có phải là người quen của Tuấn không, vì số của tôi là số được gọi nhiều nhất trong máy nó. Tôi nhớ mình đứng dậy, rồi lại ngồi xuống, rồi lại đứng dậy, không biết để làm gì. Người đàn ông nói chậm rãi, giọng của người đã phải nói câu đó nhiều lần: khoảng hai giờ sáng, ở ngã tư gần cây xăng trên con đường tỉnh lộ chạy ngang khu công nghiệp, xe máy của Tuấn bị một xe tải va phải khi trời mưa. Tài xế xe tải bỏ chạy. Người ta đưa nó vào bệnh viện nhưng không kịp. Trên giấy tờ của bệnh viện ghi giờ mất là hai giờ mười bảy phút.
Tôi không khóc. Tôi chỉ thấy lạnh, cái lạnh đi từ gan bàn chân lên, dù sáng hôm ấy trời vẫn oi như mọi ngày. Tôi gọi về quê cho mẹ nó. Đến giờ tôi vẫn không nhớ tôi đã nói những gì, chỉ nhớ tiếng bà ở đầu dây bên kia, một tiếng kêu không thành chữ, rồi điện thoại rơi xuống nền nhà đánh cạch, rồi tiếng người lao xao.
Mọi việc sau đó diễn ra như trong một giấc mơ có người khác điều khiển. Xưởng của Tuấn góp tiền, anh em trong dãy trọ góp tiền, chị Hằng phòng sáu chạy đi mua vải trắng. Người ta thuê một chiếc xe cứu thương đưa nó về quê. Tôi xin nghỉ ba ngày, ngồi ở băng ghế cạnh nó suốt quãng đường hơn một nghìn cây số. Xe chạy suốt đêm. Mỗi lần xe xóc, tôi lại đưa tay giữ cái thùng, như thể sợ nó bị đau.
Đám tang ở quê làm trong hai ngày. Mẹ Tuấn ngất đi mấy lần. Bố nó ngồi im ở góc sân, hút hết điếu này đến điếu khác, không nói với ai câu nào. Đến chiều ngày thứ hai, người ta đưa về cho gia đình một cái túi nilon đựng đồ của nó: cái ví đã ướt nhẹp, chùm chìa khóa có cái móc hình con cá, và cái điện thoại. Cái điện thoại vỡ màn hình, nắp lưng bung ra, cục pin văng đâu mất, chỉ còn cái ốp dán hình đội bóng. Mẹ nó cầm cái điện thoại, áp vào ngực, rồi đặt nó lên bàn thờ, ngay dưới tấm ảnh thẻ được phóng to vội vàng ở tiệm ảnh ngoài chợ huyện. Tấm ảnh chụp từ hồi nó làm chứng minh thư, tóc húi cua, mắt nhìn thẳng, nghiêm như đang đứng trước thầy hiệu trưởng.
Tối hôm đó, trước khi lên xe khách quay lại Bình Dương, tôi thắp cho nó một nén nhang. Tôi nhìn cái điện thoại vỡ nằm cạnh bát hương, nhìn cái ốp lưng hình đội bóng mà tôi đã nhìn thấy mỗi ngày suốt hơn một năm, và tôi nói, trong đầu thôi, không thành tiếng: mày ở lại với bố mẹ mày đi, tao vào trong đó làm thay mày ít bữa rồi tao cũng về.
Tôi quay lại phòng trọ vào một buổi chiều mưa. Cái phòng chín mét vuông bỗng rộng ra một cách kỳ lạ. Đồ đạc của Tuấn vẫn còn y nguyên: cái áo đồng phục xưởng vắt trên lan can gác, đôi dép tổ ong ở chân cầu thang, gói mì tôm ăn dở trong hộp nhựa. Bà chủ trọ, chúng tôi gọi là cô Sáu, lên tận phòng, nói tôi cứ ở, tháng này cô không lấy tiền phòng phần của Tuấn. Cô đứng ở cửa một lúc lâu, nhìn lên gác, rồi nói nhỏ:
— Con nhớ thắp cho nó cây nhang. Nó đi bất đắc kỳ tử, hồn còn lạ đường.
Tôi dạ cho có. Hồi đó tôi không tin mấy chuyện ấy. Tôi lớn lên ở quê, nghe đủ chuyện ma cỏ ông bà kể, nhưng tôi nghĩ đó là chuyện để dọa con nít đừng ra sông tắm trưa. Tôi cũng không thắp nhang, một phần vì phòng trọ chật, một phần vì tôi sợ nhìn thấy khói nhang trong căn phòng ấy, nó sẽ làm cho mọi thứ trở nên thật.
Sáu đêm đầu, không có gì xảy ra, ngoài việc tôi không ngủ được. Tôi nằm nghe tiếng mưa trên mái tôn, nghe tiếng quạt kêu cạch ở góc trái, và cứ đến khoảng hai giờ sáng là tôi tự động mở mắt, tai dỏng lên chờ tiếng xe đỗ ngoài hiên. Dĩ nhiên không có tiếng xe nào cả. Chiếc xe của Tuấn nằm ở bãi giữ xe của công an, người nhà nói để xong việc mới lấy về.
Đêm thứ bảy, tôi đi làm về mệt rã, ăn vội gói mì rồi ngủ từ chín giờ tối, ngủ say như chết lần đầu tiên sau một tuần. Tôi tỉnh dậy vì tiếng chuông điện thoại.
Đó là tiếng chuông mặc định của máy, một đoạn nhạc đơn điệu, lặp đi lặp lại, mà tôi chưa bao giờ đổi. Trong bóng tối, màn hình phát ra thứ ánh sáng xanh nhạt, hắt lên trần nhà một mảng vuông. Tôi quờ tay tìm cái máy, nheo mắt nhìn. Trên màn hình hiện hai chữ tôi đã lưu từ ngày đầu tiên có điện thoại: Tuấn Cò. Cái biệt danh hồi nhỏ của nó, vì chân nó dài và nó hay đứng một chân ngoài ruộng bắt cá.
Góc trên màn hình, đồng hồ chỉ hai giờ mười bảy.
Tôi nhìn cái tên đó cho đến khi chuông tắt. Tôi không bấm nghe, cũng không bấm từ chối. Tay tôi không nhúc nhích được. Màn hình tối đi, rồi sáng lên dòng chữ: một cuộc gọi nhỡ. Tôi bấm vào xem. Số máy hiện ra, mười một số, đúng là số của nó, cái số đuôi sáu tám mà nó khoe là số đẹp, mua lại của một thằng bạn với giá năm chục nghìn.
Tôi ngồi dậy, bật đèn. Cái bóng đèn tuýp chớp chớp mấy cái rồi mới sáng hẳn. Phòng vẫn thế. Cái áo đồng phục vẫn vắt trên lan can gác. Ngoài trời mưa đã nặng hạt hơn. Tôi tự nhủ chắc có ai đó nhặt được cái sim, lắp vào máy khác, gọi nhầm. Hoặc có thể nhà nó lắp sim vào máy khác để báo tin cho bạn bè, và ai đó bấm nhầm vào số tôi. Tôi nghĩ ra cả chục lý do, lý do nào cũng hợp lý khi đèn đang sáng.
Tôi để đèn sáng đến tận sáu giờ sáng.
Bây giờ, sau ngần ấy năm, mỗi lần kể lại chuyện này, người nghe thường hỏi tôi: sao lúc đó không gọi lại ngay? Tôi cũng không biết trả lời thế nào cho đúng. Có lẽ vì tôi sợ. Không phải sợ không ai nghe máy, mà sợ có người nghe.